Ngày 31 tháng 3 nam 2017
Thân gửi các ban KHX
Nhờ con cháu báo
giúp bố me, ông bà Khu Học Xá
Như đã thông báo, bắt dầu từ nay ( 3/2017 ), cứ vào đầu mỗi tháng, Ban liên lac Khoa SPĐB 1952 Khu Học Xá sẽ đưa Bản tin Chùm Hoa Đầu Mùa trên email và trên facebook chỉ là .facebook.com/groups/KHOASPDACBIETKHUHOCXA1952/ Số này 4/ 2107. này sẽ gồm có: 1/ Tin nội bộ 2/ Giới thiệu cuốn “ Một thời nhớ mãi - lưu bút tuổi 80, gồm các bài tự sự của các ban. Đọt này là 1/ “Những lần được gặp Bác Hồ “ của Đỗ Mông Châu. 2/ Giũ trọn lời hứa với Khu Học Xá “của Đoàn Đình Tỉnh 3/Tình bạn khóa ta“ của Nguyễn Vĩnh Long 4/ “ Điều tâm đắc của tôi về công nghệ giáo dục” của Nguyễn Trung Chính
4/ Tu liệu tham khảo hay “
Trên báo Kinh tế Sài Gòn, Thứ Bảy, 28/1/2017,) – do ban Hoàng Ngọc Cẩn
cung cấp
Trước ngày 25 mỗi tháng các bạn và
các cháu gửi thông tin hoặc tu liệu hay trên emai cho BLL. Chúng tôi sẽ phổ biến
cho mọi bạn bè cùng biết.để gắn bó với nhau
Tin nội bộMòi các bạn, các cháu đón xem các file dưới dây Ban Liên lac/ Trần ích 1/ Anh Nguyễn Đằng Kiêu 90 tuổi sau nhiều lập nhập viên, trước Tết đã vè dièu trị tại nhà. Anh phải thở oxy, mở nội khí quản (đeo ống ở cổ để hút đờm dãi, nên ống đó chặn ngang thanh quản, không thể nói được.và sinh hoạt tại chỗ. Ban liên lac đã đén thăm 2/ Nghê sĩ Ưu tú Nguyễn Duy Đình, cáp cứu tim mach hôm 7/3. Đã phải dăt 2 ông sten trong tim , sau hơn 1 tuần nằm việc đã xuát viên, nay tạm ổn định 3./ Tuy đã tích cực chuản bị dén họp xuân với lớp dịp Tết, nhưng Anh Nguyễn Quân Hiệp phải năm bênh vien E do hen xuỹên, một bênh khó tính. Anh còn gửi lại tặng các ban bản nhạc dã sáng tác năm 2016 4/ Vừa qua chúng tôi mới nhận dược tiên dóng góp quĩ 500 000đồng của các bạn Phạm Quang Trụ, Trần Kim Minh, Tô Đằng. Xin hoan nghênh Ban liên lạc
Tôi nhớ khi mới được cử ra dạy học ở trường
Thiếu nhi Việt nam tại Khu học xá trung ương (Nam Ninh, Trung quốc), có lần được
tin Bác nhân dịp qua Trung Quốc về nước sẽ ghé thăm Khu học xá. Toàn khu nao nức
chuẩn bị đón chào Bác, nhưng cuối cùng lại được tin là Bác vì bận việc phải về
nước ngay nên không vào thăm Khu học xá được. Ai nấy đều tiếc dịp may hiếm có
này. Riêng tôi nghĩ với danh phận như mình thì chắc chẳng còn có dịp nào được gặp
Bác.
Mùa hè năm 1955, tôi được lệnh cùng một anh nữa
tên là Hòa về Bộ giáo dục ở Hà nội nhận một công tác đột xuất. Về đến Hà nội,
chúng tôi được anh Hân, Chánh văn phòng Bộ lúc đó giao nhỉêm vụ là chuẩn bị
trong 2 tuần nữa sẽ đón tiếp 150 em thiếu nhi, con em các chiến sĩ cách mạng,
sang học tại CHDC Đức. Theo kế hoạch,cuối tháng 8 năm đó, các em sẽ lên đường.
Chúng tôi không phải chỉ có nhiệm vụ cùng một số cán bộ nhân viên của Bộ chuẩn
bị đón các em về vật chất, mà cái chính là trong vòng 2 tháng trước khi các em
lên đường phải làm sao cho các em hiểu rõ nhiệm vụ khi sang học bên nước bạn,
hiểu qua về nước Đức lúc ấy còn bị chia cắt, về đất nước Việt Nam mình qua những
câu chuyện kể về địa lý, về lịch sử hào hùng của dân tộc, lại phải dạy các em một
số bài hát, điệu múa cùng một số điều cần biết khi ra nước ngoài v.v…Tôi cùng
anh Hòa gấp rút làm một đề cương “giáo dục” theo hướng đó, tôi liên lạc với anh
Lê Đình Lực, bạn thân của tôi, cùng một vài bạn nữa giúp chúng tôi về mặt văn
nghệ.
Sắp đến
ngày lên đường, tôi lại nhận được nhiệm vụ cùng một vài anh nữa sang CHDC Đức
cùng các em học sinh để cùng các đồng chí bạn giáo dục các em trong thời gian
các em học ở Đức. Tôi nhớ trước ngày lên đường mấy hôm, đồng chí Hoàng Quốc Việt,
khi ấy là Chủ tịch Liên đoàn lao động Việt nam, đến thăm các em. Nhân dịp này,
tôi “xui” một em học sinh nhỏ ngồi cạnh tôi, nói với bác Hoàng Quốc Việt xin
phép cho các em được găp Bác Hồ trước khi các em sang nước bạn học tâp. Bác
Hoàng Quốc Việt nói Bác Hồ rất bận, không biết có thì giờ cho các em được gặp
không, nhưng bác hứa sẽ chuyển điều mong mỏi của các em lên Bác Hồ. Chỉ còn 2
ngày nữa là lên đường. Chúng tôi chắc không còn có dịp được gặp Bác Hồ nữa.
Tôi nhớ
rõ buổi tối ngày thứ bẩy cuối tháng 8 năm đó, khi chúng tôi và các em đang xem
một vở cải lương ở nhà hát Hồng Hà, thì tôi được một đồng chí đại diện bộ giáo
dục cho biết tin 7 giờ sáng chủ nhật ngày hôm sau, Bác Hồ sẽ cho các cháu và những
người cùng đi với các cháu vào Phủ Chủ tịch gặp Bác. Tôi mừng quá, nhưng vì
quen tác phong giữ bí mật nên tôi chỉ báo riêng với mấy giáo viên khác biết tin
đó, còn các em học sinh thì chưa báo gì vội. Chúng tôi chỉ nói với các em sáng
hôm sau phải dậy sớm, điểm tâm xong thì ăn mặc sạch sẽ gọn gàng để…có chuyến đi
tham quan, một điều mà tuần lễ nào cũng vẫn thường được tổ chức ! Một vài em lấy
cớ “mệt” không muốn đi vì còn muốn đón bố mẹ đến thăm. Nhưng chúng tôi không
cho phép và “bắt buộc” mấy em này phải đi !
Dạo đó các em ở trong một vài lớp học của trường
Chu Văn An. Từ đấy sang “Cổng đỏ” của Phủ Chủ tịch chỉ cần mươi phút. Vào trong
khuôn viên Phủ Chủ tịch, nhiều em lớn đã đoán ra sẽ được gặp Bác. Lúc này chúng
tôi cũng không dấu các em tin vui đó nữa. Một đồng chí cán bộ Phủ Chủ tịch ra đón
chúng tôi, đưa chúng tôi vào một căn phòng rộng và dặn các em phải giữ trật tự,
không được chạy ra sát bên Bác. Các em đứng thành một vòng tròn. Mấy phút sau,
cửa phòng bên mở. Chúng tôi trông thấy Bác bước vào phòng, râu tóc bạc phơ, mặc
bộ quần áo lụa mầu nâu. Các em reo ầm lên “Bác Hồ ! Bác Hồ !”. Một em học sinh
lớn hô to “ Bác Hồ muôn năm ! Bác Hồ muôn năm !” Rõ ràng, nếu không có lời dặn
trước, chắc chắn các em sẽ chạy xô về phía Bác. Bác ra đứng giữa phòng, giơ tay
ra hiệu các em yên lặng, rồi Bác nói chuyện với các em, dặn dò các em, bảo các
chú phục vụ chia kẹo cho các em. Tôi ngắm kỹ Bác, xem mắt Bác có “hai con
ngươi” như người ta vẫn đồn không, bàn tay Bác có 5 ngón như người thường
không. Nói chuyện và dặn dò các cháu xong, Bác hỏi “Những ai sẽ đưa các cháu đi?”
Tôi đáp : “Thưa Bác, 4 anh em chúng cháu được Bộ giáo dục giao nhiêm vụ đưa các
cháu đi và sẽ cùng với các đồng chí bạn dạy dỗ các cháu trong thời gian các
cháu học ở bên nước bạn.” Bác hỏi : “Các chú có biết tiếng Đức không ?” Tôi trả
lời Bác : “Thưa Bác, chúng cháu chỉ biết một ít tiếng Pháp và tiếng Trung quốc
đủ để giao thiệp ạ”. Bác cười hồn hậu : “Sang Đức cùng công tác với các bạn Đức
mà lại chỉ biết tiếng Pháp và tiếng Trung quốc thì làm sao giúp các cháu học
hành và hợp tác với các đồng chí Đức tốt được ! Các chú cũng phải học tiếng Đức
cho tốt để giúp các cháu học và sau này còn có thể giúp đất nước được.” Tôi nhớ
lời Bác và đã cố gắng thực hiện điều Bác dặn.
Sau này
về nước tôi đã đi dịch cho nhiều chuyên gia Đức sang giúp ta, đã nhiều năm giảng
dạy tiếng Đức và công tác tại Cục phục vụ ngoại giao đoàn, Bộ Ngoại giao. Trong
thời gian này, tôi còn vinh dự được Phủ Chủ tịch goi vào dich cho Bác 2 lần khi
Bác tiếp các khách Đức. Và khi còn ở Đức, tôi cùng các em học sinh cònđược đón
Bác đến thăm trường ở Moritzburg, nơi các em học tập vào mùa hè năm 1957.
Hơn nửa
thế kỷ đã trôi qua kể từ lần đầu được gặp Bác, cũng như những lần sau này, đối
với tôi là những điều may mắn, những kỷ niệm không phai mờ và không bao giờ
quên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2013
Cho đến bây giờ, khi đã bước qua tuổi 80 rồi, những kỷ
niệm một thời là giáo sinh của Khu học xá Trung ương hồi kháng chiến chống Pháp
vẫn sâu lắng trong tôi. Mỗi khi có dịp gặp gỡ các bạn học cũ ngày ấy, những kỷ niệm,
những cảm xúc như bị dồn nén lâu ngày chợt ùa tới làm tôi vô cùng phấn khích…
Hối ấy,
gia đình tôi ở ngay thị xã Sơn Tây. Trong không khí sôi nổi của những ngày đầu
cách mạng Tháng Tám năm 1945, tôi và các bạn trong Đội Thiếu nhi tham gia nhiều
hoạt động ở địa phương, như tuyên truyền cổ động các phong trào, dạy bình dân học
vụ v.v.. Ở cái tuổi “ bẻ gãy sừng trâu” tôi giành được khá nhiều thành tích. Có
lẽ vì thế tôi được sự chú ý giúp đỡ, quan tâm của lãnh đạo địa phương, đơn vị. Cuối cùng tháng 11-1951, tôi được giới thiệu
đi học lớp Sư phạm sơ cấp ở Khu học xá Trung ương. Đây là khóa đào tạo giáo
viên cấp I nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục của cách mạng đối
với các vùng dân cư vừa mới được giải phóng. Đồng thời cũng là một bước thử
nghiệm đào tạo giáo viên trong hoàn cảnh đầy rẫy khó khăn, thách thức, vừa
kháng chiến vừa kiến quốc. Lúc này tôi đã học xong lớp đệ Tam ( lớp 8 bây giờ )
ở trường cấp II Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ, càng củng cố lòng tin, động viên tôi
theo khóa học đào tạo giáo viên này.
Thời kỳ
này, thực dân Pháp liên tục xua quân đi càn quét, đánh phá các vùng tự do. Được
sự chỉ đạo của cấp trên, sự giúp đỡ của nước bạn Trung Quốc, Khu học xá Trung
ương được thành lập tháng 11- 1951 tại Nam Ninh – Trung Quốc. Học viên được tuyển
chọn từ nhiều địa phương trong nước về đây. nhưng ai nấy đều ý thức được trách
nhiệm của mình, đoàn kết, thương yêu nhau, dộng viên nhau, tạo điều kiện cho
nhau học tập tốt. Qua các bài giảng về lòng yêu nước, lòng yêu nhân dân của các
thầy cô Khu học xá Trung ương, giáo sinh chúng tôi càng thấm thía những gì cách
mạng đem lại cho nhân dân, dân tộc. Những hình ảnh tiêu biểu của thầy Võ Thuần
Nho, thầy Việt Phương….đứng trên bục giảng ngày nào, đến bây giờ vẫn ngời sáng trong
tôi.
Khóa sư
phạm sơ cấp của chúng tôi đã triển khai học tập được 3 tháng thì các vùng tự
do, các khu du kích trong nước được mở rộng cần một số giáo viên cấp I, cấp II
về giảng dạy. Hàng trăm giáo sinh chúng tôi không ai bảo ai đều xung phong,
tình nguyện về nước trước thời hạn để đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục ở những
nơi này. Tôi là một trong số 35 giáo sinh cấp I được tuyển chọn về nước đợt đầu
tiên này. Sung sướng và tự hào biết bao! Ban lãnh đạo Khu học xá Trung ương tổ
chức buổi tiễn đưa anh em giáo sinh chúng tôi lên đường về nước nhận nhiệm vụ
ít ngày sau đó.
Thật là quyến luyến và cảm động vô cùng ! Chúng tôi thay
nhau phát biểu cảm tưởng và cùng tuyên hứa với các đồng chí lãnh đạo Khu học xá
Trung ương, rằng chúng tôi: sẵn sàng nhận
TAM BẤT KỲ ( sẵn sàng đến bất cứ nơi nào, nhận bất cứ nhiệm vụ nào, nhận
bất cứ đãi ngộ nào).
Tôi được cấp trên cử về nhận nhiệm vụ ở Khu
giáo dục Liên khu 3. Có thể nói đây là bước thử thách đầu tiên của tôi kể từ
khi rời Khu học xá Trung ương. Từ Mục Nam Quan tôi đi bộ về Thái Nguyên. Từ
Thái Nguyên tôi đi bộ qua Tuyên Quang, Phú Thọ, Hòa Bình. Hơn 20 ngày sau tôi mới
tới huyện Hậu Hiền, Thanh Hóa, nơi làm việc của Khu gíáo dục Liên khu 3. Tính
ra tôi đã vượt qua hàng trăm cây số đường rừng núi hoang vu, rậm rạp bằng đôi
chân trần. Hôm đi qua đoạn đường Suối Rút tỉnh Hòa Bình, tôi được bà con địa
phương cho biết “ Mấy hôm trước một anh cán bộ đã bị hổ vồ mất xác khi qua đây
”
Và ở Dốc
Cun tỉnh Hòa bình mà tôi đi qua, quân Pháp thường phục kích để bắt sống hoặc bắn
chết cán bộ, bộ đội ta đi qua đây…Lúc này tôi lại chợt nhớ tới buổi chia tay của chúng tôi với Khu học xá, cùng lời hứa “ Sẵn
sàng nhận Tam bất kỳ ”, một sức mạnh vô hình từ nguồn động viên đó đã xua tan mọi
suy nghĩ tiêu cực trong tôi.
Sau 3
ngày nghỉ lại ở Khu giáo dục Liên khu 3, tôi tiếp tục theo đường dây liên lạc
vào Khu giáo dục Tả ngạn đóng tại huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Ông Đào Trọng
Côn, Giám đốc Khu giáo dục, chính thức trao quyết định điều tôi và anh Nguyễn
Trung Chính về công tác ở Ty giáo dục Kiến An. Thế là hai chúng tôi lại khẩn
trương lên đường. Đêm hôm sau chúng tôi phải vượt qua sông Hóa vào huyện Vĩnh Bảo.
Ai nấy chỉ mặc một chiếc quần lót, còn tư trang thì gói vào một tấm ni lông làm
phao bơi. Sang tới bờ bên kia, kiểm điểm quân số, trưởng đoàn cho biết thiếu một
người. Riêng tôi nhận ra người đó là anh Chính. Chờ đợi tới 20 phút, người liên
lạc cho tôi địa chỉ Ty giáo dục Kiến An rồi tiếp tục dẫn đoàn lên đường. Tôi lo
quá, bụng nghĩ nếu anh Chính có làm sao thì tôi biết xoay sở thế nào ? Nhìn về
phía bốt Hệ của địch ở cách đó không xa, ẩn hiện trong màn đêm, tôi càng phân
vân lo lắng. Đi dọc bờ sông một đoạn, tôi thấy anh Chính nằm soài trên mép nước.
Tôi vội
lôi anh lên rồi xoa bóp một hồi lâu cho nóng người. Lát sau anh hồi tỉnh, tôi mừng
quá. Biết Chính còn yếu, tôi quyết định vừa cõng, vừa dìu anh vượt qua bãi sình
lầy ven sông để lên mặt đê. Bây giờ nghĩ lại, sao lúc ấy tôi có một sức mạnh đến
thế ! Vì tôi đâu có khỏe để dìu anh Chính có trọng lượng hơn mình. Hôm sau hồi
sức, anh Chính cho biết : Anh bơi giỏi nhưng chủ quan, khi vượt sông cứ đội chiếc
ba lô trên đầu để bơi đứng. Chẳng ngờ khi ra đến giữa sông, nước chảy siết, lại
bị uống nước, anh chỉ kịp đưa vào bờ chiếc ba lô chứa đầy tài liệu giảng dạy, rồi
kiệt sức, bất tỉnh ”. Thật là hú vía…
Ty giáo
dục Kiến An lúc này đóng tại xã Tiền Phong huyện Vĩnh Bảo. các đồng chí lãnh đạo
Ty giáo dục tiếp nhận giấy điều động của chúng tôi rồi giới thiệu tình hình địch
ta và phong trào giáo dục ở huyện Tiên Lãng nơi chúng tôi sẽ về nhận công tác.
Hoạt động ở một địa bàn “xôi đỗ” xen kẽ địch, ta quả là không dễ nếu không muốn
nói là cực kỳ nguy hiểm. Chuyện địch xua quân đi càn quét, cướp bóc , bắn giết,
bắt bớ thường xảy ra như cơm bữa. Lúc này, toàn huyện chia làm 4 khu gồm các
khu I,2,3,và 4. Tôi được phân công dạy lớp ba, lớp bốn ở khu 3 gồm các xã Tiên
Minh, Quang Phục, Toàn Thắng; còn anh Chính dạy lớp ba, lớp bốn ở khu 2.
Ban ngày
tôi dạy các cháu học sinh, còn buổi tối đi dạy bổ túc văn hóa cho cán bộ xã,
thôn ( mỗi tuần 2 buổi). Các lớp học đều có giao thông hào dẫn tới hầm trú ẩn để
phòng tránh tầm pháo của địch ở Kiến An mỗi khi chúng “ngứa ngáy” chân tay.Mỗi
lần địch xua quân đi càn quét, thầy trò chúng tôi lại phối hợp cùng lực lượng
du kích địa phương, hiệp đồng chiến đấu, bảo vệ xóm làng.
Đầu
tháng 9 năm 1953, quân Pháp mở trận càn mang tên “ Claude” vào Tiên Lãng với thủy,
lục, không quân cùng hàng chục xe lội nước. quân dân Tiên Lãng kiên cường, dũng
cảm chống lại cuộc càn quét của địch suốt 23 ngày đêm. Cuối cùng chúng thất bại
thảm hại phải mau chóng rút quân khỏi Tiên Lãng. Quân dân Tiên Lãng tuy giành
thắng lợi lớn, song cũng không tránh khỏi tổn thất, trong đó nhiều học sinh lớp
4 của tôi đã anh dũng hi sinh.
Ngày
20-7-1954, hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, hòa bình được lập lại ở miền Bắc.
Ngày 13-5-1955 Hải Phòng được giải phóng. Tôi được tham gia vào đội quân tiếp
quản thành phố trước 10 ngày ( ngày
3/5/1955 ) để nhận bàn giao với Pháp một số trường học.
Từ đây lịch sử của đất nước, của thành phố đã
bước sang một trang mới. Bản thân tôi cũng có những đổi thay sâu sắc, từ một học
sinh nhỏ bé sống ở thị xã Sơn Tây buồn tẻ đã hăng hái tham gia cách mạng từ
tháng 9/1945, từng là lớp giáo sinh đầu tiên Khóa sư phạm sơ cấp Khu học xá
Trung ương rồi lên đường nhận công tác với hành trang là lời tuyên hứa “Sẵn
sàng nhận Tam bất kỳ”. Cũng từ đây, tôi chính thức trở thành công dân loại 1 của
thành phố Hải Phòng, tích cực đóng góp công sức của mình vào sự nghiệp giáo dục
cách mạng của thành phố Cảng. Suốt 40 năm liên tục ( 1952-1992 ) tôi vừa tham
gia công tác giảng dạy vừa theo học các lớp nghiệp vụ và đã tốt nghiệp đại học
toán ở Trường Đại học sư phạm Hà Nội năm 1965, đồng thời nhận trách nhiệm quản
lý một số trường của thành phố. Bất kể trong hoàn cảnh khó khăn gian khổ nào của
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tôi đều nỗ lực vượt qua để hoàn thành tốt
nhiệm vụ.
Tháng
9-1992, tôi rời vị trí Hiệu trưởng Trường Phổ thông cơ sở Trần Phú của quận Lê
Chân để nghỉ hưu. Song, chưa đầy một năm, các đồng nghiệp của tôi lại tín nhiệm
bầu làm Chủ nhiệm Câu lạc bộ nhà giáo hưu trí quận Lê Chân ( tháng 8/2003) Khi hệ thống tổ chức Hôi Cưu giáo chức cả nước hình thành, năm 2005 tôi trở thành chủ
tịch của hội này của quận Lê Chân… Ngoài ra tôi còn tham gia vào nhiều hoạt động
của nganh giáo dục từ quận đến thành phố
Năm nay
( 2013 ) tôi đã 82 tuổi song trời cho vẫn khỏe mạnh. minh mẫn. trong suốt 45
năm công tác liên tục, trong đó có 40 năm đứng trên bục giảng. Mỗi khi có dịp,
tôi đã tự kiểm mình và đánh giá bản thân đã làm đúng và giữ trọn lời hứa năm
nào với Khu học xá Trung ương “ Sẵn sàng nhận Tam bất kỳ ”. Câu nói mộc mạc ,
giản dị sao mà có sức quyến rũ đối với tôi như vậy. Thế thái nhân tình hiện nay
đang làm cho những người có lương tri, trách nhiệm với đất nước phải lo lắng,
băn khoăn. Song với quyết tâm đi theo con đường mình đã chọn cho đến lúc nhắm mắt
xuôi tay, tôi tin tưởng chắc chắn rằng chân lý cuộc sống sẽ ngày càng sáng tỏ,
sau cơn giông bầu trời sẽ phong quang,đẹp đẽ.
Tháng 8 năm 2013
![]()
Kể từ ngày khóa ta tổ chức buổi họp mặt đầu tiên tại
Hà Nội ( 1981 ), với sự kiên trì kheo léo vận động, lôi cuốn của bạn Trần Ích
cùng Ban liên lạc, 33 năm qua khóa chúng ta đã làm được biết bao điều tốt đẹp.
Ngoài việc họp mặt đều đặn đầu xuân hàng năm và chúc thọ các bạn 70,75,80 tuổi,
tham gia các dịp kỉ niệm 45,50,55,60 năm thành lập Khu học xá, thăm viếng, giúp
đõ các bạn, các thầy gặp khó khăn,tổ chức các chuyến tham quan, du lịch và thăm
các bạn ở các tỉnh… chúng ta còn ra được 7 cuốn sách và đĩa DVD “ Chùm hoa đàu
mùa ”… Các thầy và bạn Khu học xá luôn đánh giá cao khóa chúng ta, tuy ra trường
sớm nhất và về những nơi khó khăn, gian khổ nhất, nhưng lại gắn bó với nhau chặt
chẽ và hoạt động sôi nổi nhất. Những điều đẹp đẽ này đã được ghi lại khá đầy đủ
trong các cuốn sách trên. Nhân dịp này, mời các bạn mở ra đọc lại, tôi tin rằng
những cảm xúc tốt đẹp sẽ lại ùa đến với mỗi bạn đấy.
Trong buổi họp mặt đầu tiên của khóa, thực sự tôi rất
bỡ ngỡ vì đã quên mất quá nhiều bạn, chỉ còn nhớ mấy người đã cùng học từ Trường
Sư phạm Trung ương ở Chợ Ngọc. Vì tôi ra trường sớm, lại về hậu địch Hưng Yên đầy
ác liệt nên không gặp gỡ được bạn nào rồi sau đó chuyển sang công tác ngành âm
nhạc nên mối quan hệ với các bạn sư phạm ở Khu học xá hầu như không còn. Nhưng
không khí vui tươi, phấn khởi của mọi người hôm đó đã giúp tôi hòa mình nhanh
chóng và dần nhận ra từng bạn. Rồi qua việc trao đổi với nhau để cố nhớ lại các
bạn còn vắng mặt, tên và địa chỉ của nhiều bạn đã dần hiện lên. Tuy nhiên vẫn
còn một số nhớ được tên nhưng không biết nay đang ở đâu và tình trang ra sao,
trong đó có Nguyễn Ngọc Nhung, người bạn duy nhất cùng vào hậu địch Hưng Yên với
tôi. Việc tìm Nhung mất khá nhiều công sức, mãi 9 năm sau ( năm 2000 ) tôi mới
tìm được ( Xem bài “ Tìm được bạn Nguyễn Ngọc Nhung ”, trang 52, cuốn “ 50 năm
tình bạn ”). Tôi tha thiết mong được gặp Nhung, nhưng vì bệnh tật Nhung không
ra Hà Nội và về thăm lại Hưng Yên được, chúng tôi đành thường xuyên thư từ cho
nhau. Tuy nhiên Nhung cũng đã viết được 2 bài in trong cuốn “ 50 năm tình bạn ”
trang 71,76. Mãi đến giữa năm 2006, tôi mới may mắn được nói chuyện qua điện
thoại với Nhung ( Xem bài “ Qua một cuộc đàm thoại thú vị ”, trang 36, cuốn Kỷ
yếu “ 55 năm khóa Sư phạm đặc biệt 1952
”). Và như đã hứa với tôi, Nhung cũng đã có bài “ Người rừng ” in trong cuốn này ở trang 85. Nhưng đọc lại
bài này, tôi nghĩ hình như Nhung đã cảm thấy sắp đến ngày chia tay chúng ta và
Nhung đã ra đi vào ngày 17/8/2007.
Từ khi gặp lại các bạn, tôi đã tham gia hầu hết các buổi
họp mặt, tham quan và đi thăm các thầy, các bạn do khóa tổ chức. Tôi còn được bạn
Trần Ich mời vào Ban liên lạc, phụ trách Phân đoàn đặc biệt, biên tập các cuốn
sách của khóa và làm đĩa DVD : “Chùm hoa đầu mùa ”… , nhờ đó tôi đã có dịp hiểu
biết, gắn bó với các bạn nhiều hơn, không còn bỡ ngỡ như hồi đầu nữa. Đặc biệt,
vợ tôi, tuy không phải là nhà giáo nhưng
qua các chuyện kể của tôi về tình bạn và qua các cuốn sách của khóa ta, vợ tôi
ngỏ ý muốn tham gia các chuyến đi của chúng ta. Thế là , có lẽ vợ tôi đã thành
“nàng dâu ” đầu tiên của khóa. Chuyến lên Hà Giang thăm gia đình bạn Trần Quang
Bật đường thì xa, trời lại mưa rét, lên xe lại chẳng thấy bạn gái nào vợ tôi đã
định bỏ về thì may sao sau đó có vợ bạn Ngô Tùng đến nên 2 chị em lại vui vẻ
cùng đi với chồng và các bạn trai của chồng. Dần dần về sau có thêm một số nàng
dâu khác và cả chàng rể nữa. Theo đề nghị của bạn Trần Ich, vợ tôi đã viết một
bài nói về tình bạn của chúng ta ( Trong “ Tâm Hư tình bạn ” trang 9 ). Tiếc rằng
năm 2008 vợ tôi mất nên không còn đi cùng các bạn được nữa!
Năm 2011 chúng ta dã ra cuốn sách “Nhịp cầu tình bạn”với
mong muốn có thể mở rộng, kéo dài tình bạn của khóa ta. Đúng là nhờ có cuốn
sách này mỗi chúng ta có dịp hiểu biết đầy đủ hơn về gia đình các bạn. Ngoài
chuyện các bà vợ, ông chồng tham gia các chuyến đi của chúng ta như tôi đã nói ở
trên, còn phải kể đến vợ anh Dư Văn Nghị còng lưng đèo chồng bị ốm mệt đến họp,
vợ anh Lê Văn Lạng viết thư cảm ơn chúng ta đã đến nhà thắp hương cho chồng rồi
từ Ninh Bình lên tận Hà Nội đi tham quan với chúng ta và vợ anh Phạm Gia Tuấn
còn xin được đến họp mặt thay chồng và sẵn sàng đến thăm hỏi chúng ta khi bị
đau ốm như chúng ta đã từng quan tâm đến anh Tuấn… Rồi việc vợ con các bạn ở
các tỉnh đều rất nhiệt tình chào đón, giúp đỡ chúng ta, mỗi khi chúng ta đến
thăm nhà các bạn. Nhưng để gắn bó các cháu lại với nhau như các bố mẹ chúng,
thì tôi nghĩ chắc không được, vì hoàn cảnh và điều kiện mọi mặt của các cháu hiện
nay không giống như chúng ta ngày trước. Tuy nhiên có 2 hiện tượng tôi muốn nêu
lên để các bạn cùng suy nghĩ xem có thể khai thác, phát huy được không :
1/ Cháu Bảo Oanh con bạn Bùi Lãng năm 2011 đã mời
chúng ta đến họp mặt tại nhà hàng của cháu. Năm sau chúng ta không đến được,
cháu đã cho con trai đến chúc mừng. Năm nay cháu lại nhiệt tình đón tiếp chúng
ta. Trong buổi này có cả cháu An Chinh con bạn Duy Đính đưa bố đến họp. Hai chị
em đã chuyện trò với nhau khá vui vẻ. Khi biết chúng ta sẽ cố gắng tổ chức họp
mặt cho đến khi chỉ còn vài người cuối cùng, cháu Bảo Oanh đã xin được đón tiếp
chúng ta cho đến ngày ấy.
2/ Trong chuyến thăm Tràng An- Bái Đính gần đây, con rể
tôi và 2 con bạn Lê Đình Lực cùng đi với đoàn. Ba anh em chúng rất vui vẻ với
nhau từ đấu đến cuối chuyến đi. Phải chăng chúng ta nên vận động các con cháu
cùng tham gia những chuyến đi như thế này ?
Cuối cùng tôi xin chúc tất cả các bạn cùng gia đình
luôn khỏe mạnh, cố gắng thỉnh thoảng gọi điện hoặc đến thăm nhau và tham gia những
chuyến đi phù hợp với sức khoẻ, hoàn cảnh
của mình do khóa tổ chức để tình bạn của chúng ta được càng lâu càng tốt.
Hà Nội , 04/9/2013
![]()
Hồi học
sư phạm (sơ cấp, trung cấp TW, đại học
sư phạm Hà Nội), tôi may mắn được “tu nghiệp” ở các trường nổi tiếng với các thầy
giỏi về môn tâm lý giáo dục như thầy Nguyễn Hữu Tảo, thầy Đức Minh, thầy Hà Thế
Ngữ...Sau khi nghỉ hưu, tôi làm giáo dục
dân lập. nghiên cứu khoa học rồi làm Báo Hội, liên tục đến nay đã có "thâm
niên" giáo dục 61 năm. Bây giờ, nhớ lại các bài giảng năm xưa của các thầy
kính mến (đều đã quá cố), nay chỉ còn đọng lại trong tôi mấy nguyên tắc giáo dục
của cụ Cai - Rốp (nhà sư phạm Liên Xô thập niên 50, 60 thế kỷ trước), mấy thí nghiệm trên chó về phản
xạ của Páp - Lốp và ông Makarenko “đánh”
học trò.
Khi ra
nghề, tôi biết thêm phương pháp nêu vấn đề của Li-péc (Liên Xô cũ)
Ở thập kỷ
60, toàn ngành rộ lên các đợt học tập, nguyên lý, phương châm giáo dục, các
“tính”, các “bước” như bài giảng phải đủ 5 tính: tính tư tưởng, tính tích cực,
tính thực tiễn, tính trực quan, tính khoa học...Hồi đó ai cũng thuộc câu vè: đầu
đội nguyên lý, bụng thắt phương châm, vai đeo...
Vốn khoa
học TL-GD chỉ có ngần ấy mà tôi cũng mầy mò, xoay sở “sáng tạo” ra khối “mẹo vặt”
để soạn bài giảng, bồi dưỡng giáo viên và mang cả quân đi Đà Nẵng,Tây Ninh dự hội
giảng “thay sách” toàn quốc giành toàn giải A cho Hải Phòng.
Mùa hè
năm 1985, một cơn gió giải nồng đã đến Hải Phòng, làm thức tỉnh nhiều đầu óc tư
duy giáo dục cũ, trong đó có tôi. Đó là “ Công nghệ giáo dục, Một đề tài cấp
nhà nước do bạn Hồ Ngọc Đại ( lớp 7E cùng khóa ta ) làm chủ nhiệm
Thực ra lúc đó tôi cũng tự hỏi làm gì có “công nghệ giáo
dục”, con người có phải là cái máy đâu ? Sao “Thầy không cần giảng giải, trò
không cần cố gắng? Trò tự làm ra kiến thức cho mình, rồi dạy học không cho điểm?
định bỏ thi đua hay sao?... Sao họ dám cam đoan học theo CNGD sẽ không có học
sinh lớp 1 lưu ban, không thể “tái mù”,
trong khi cụôc CCGD của chúng ta lại vừa
vấp phải thất bại đầu tiên, ngay ở lớp 1
có tới 60% học sinh lưu ban. Nhưng tinh thần đổi mới của Đại hội VI đã khơi dậy
mọi tiềm năng xã hội vô cùng to lớn, trong đó có giáo dục.
Thế là
“lẽ phải thông thường” sau nhiều năm ngự trị đã chịu nhường bước để “lẽ phải bất thường” là CNGD
hiện diện tại thành phố Cảng. Chỉ trong vòng hơn 1 tháng trước ngày khai trường
năm học 1985-1986, Giám đốc Sở đề nghị, UBND thành phố đã ra quyết định triển
khai ứng dụng đề tài “Phát huy tối ưu
năng lực học trẻ em bằng giáo dục thực nghiệm” tại HP.
Năm
1985, có 3 lớp 1 (ở 1 trường), năm sau có 6 lớp 1,2 (ở 2 trường). Hai năm sau, 2 huyện An Hải,
Vĩnh Bảo xin mở thực nghiệm. Sau 5 năm, năm 1990, khóa lớp 1 thực nghiệm đầu
tiên thi tốt nghiệp theo đề đại trà, đỗ 100% (khá giỏi 80%)
Tháng 12
năm 1990, Bộ GD tổ chức nghiệm thu Đề tài với quy mô lớn chưa từng có. Tại Hải
Phòng có tới 42 giáo sư và chuyên gia đầu ngành của các Vụ Viện, , trường Đại học do 1 thứ trưởng dẫn đầu, làm
việc nghiêm túc, khảo sát với từng học sinh.Sau 3 ngày khảo sát, đề tài trên được
nghiệm thu, kết quả xuất sắc.
Đánh giá
chung của Hội đồng nghiệm thu là HSTN vượt
trội, đặc biệt là môn Tiếng Việt lớp 1 , học sinh có kỹ năng nghe, đọc, viết đạt
trên chuẩn của Bộ, không thể “tái mù” tư
duy lại phát triển, có lối sống hồn nhiên. Mở rộng đại trà là việc không còn
bàn cãi nên từ năm 92-93 , Sở quyết định 100% lớp 1 từ nội thành đến huyện đảo học sách tiếng Việt CNGD , với trên 40.000 HS, hơn 1000 thầy
cô giảng dạy và hàng chục ngàn cha mẹ HS
tin tưởng cho con học sách CNGD .
“Đại trà
hoá” được 10 năm thì năm 2002 , do nghị quyết Quốc hội cả nước dạy một bộ sách
(với mỗi môn, mỗi khối lớp) CNGD bị ngừng lại, tạo nên sự hụt hẫng, nuối tiếc của
hàng vạn thầy trò đất cảng.
Song le,
cũng như mọi ngành hoạt động của xã hôi (kinh tế, văn hóa…), “cái gì” hợp quy
luật, cái gì “ tốt đẹp và đạt hiệu quả cao thì dù có “ rào cản ”nhất thời nó vẫn
sẽ tiếp tục phát triển.
Trong
tình hình xã hội có nhiều bức xúc về giáo dục, đòi hỏi phải cải cách giáo dục một
cách toàn diện. Từ năm học 2011 - 2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo khuyến khich việc
triển khai nhân rộng dạy Tiếng Việt lớp 1
theo Công nghệ giáo dục để nâng cao chất lượng Môn Tiếng Việt. do các địa
phương tự nguyện đăng ký tham gia. Số lượng tăng dần, chỉ riêng năm học 2012 -
2013 tăng thêm 19 tỉnh.. Chỉ sau hai
năm chương trình được triển khai trên diện rộng. Đến năm học 2013 - 2014
đã có 37 tỉnh đăng ký tham gia dạy TV1 CNGD,
100% các trường tiểu học trên địa bàn
Nam Định đã triển khai, trong đó có trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu chọn đưa
cả 3 môn Toán, Tiếng Việt và Giáo dục lối sống dạy thí điểm ngay năm học này [1]
Cũng từ
năm học này, CNGD đã trở lại Hải Phòng, có mặt
ở tất cả các Quận, Huyện. Hãy dự giờ, giao lưu với thầy cô CNGD, nghe
các em đọc, xem các em viết, chắc chắn bạn sẽ được chia sẻ nhiều điều bổ
ích về nghề cao đẹp, tinh xảo của chúng ta và thấy được CNGD, do các em thi
công như thế nào, thao tác ra sao dưới sự thiết kế của thầy. Thi công làm ra kiến
thức cho mình, tự sản sinh ra mình chính
là hồn cốt của CNGD, là vai trò trung tâm của HS.
Thật xúc
động khi có cô giáo khoe với tôi toàn bộ giáo án thiết kế day thực nghiệm cô vẫn
cất giữ từ năm 1985, 1986. Có trưởng phòng huyện cất công sưu tầm sách CNGD
xuất bản từ 1985 . Có trưởng phòng Sở kể
về một phụ huynh có con học TN trước đây, nay ra học đại trà nhưng vẫn nhờ giáo viên thực
nghiệm dạy thêm vì sợ lạc hậu.
Có Trưởng phòng Sở khoe mới phô tô được cuốn
sách “Tôi nghĩ và làm giáo dục như thế”
của GS Hồ Ngọc Đại. Có lãnh đạo Sở phải mất 2 năm kiên trì và chờ đợi để Hải
Phòng dạy lại sách Tiếng Việt 1 CNGD kể từ năm học 2013 – 2014. Trong 10 năm
gián đoạn, đội ngũ giáo viên thực nghiệm Hải Phòng chưa bao giờ nản lòng, luôn
nhớ những điều tốt đẹp do CNGD đem lại.
Nhờ CNGD mà họ tạo ra được sản phẩm có chất lượng.
Còn tôi,
sau 30 năm nhờ tìm hiểu trải nghiệm tác động vào học sinh và sách giáo khoa
CNGD, tôi cũng đã tự tìm thấy thêm nghề dạy học tinh xảo.
Các thầy
tôi kể trong bài viết này: Thầy Đức Minh, Hà Thế Ngữ, Thầy Tảo... đã dạy tôi những
bài học đầu tiên về nghề làm thầy, và cũng còn phải kể thầy Võ Thuần Nho, thầy Việt Phương đã dạy
tôi nhiều điều hệ trọng và vô cùng bổ
ích về chính trị, về phương pháp luận, về cách mạng và nhân dân. Tôi coi đó là
những viên gạch đầu tiên xây nên cuộc đời, sự nghiệp 60 năm phục vụ giáo dục của
tôi.
Sau này,
tôi được cộng tác khoa học giáo dục thực nghiệm - với bạn Hồ Ngọc Đại; là bạn đồng
học nhưng tôi vẫn coi GS Hồ Ngọc Đại như
là thầy tôi.
Và nghĩ lại,
các thầy tôi kể trên, và cả tôi, học trò của các thầy đêu là "Người Khu học
xá" cả, cái nôi của giáo dục đào tạo cả nước trong thời kháng chiến gian
khổ, vào những năm 50 thế kỷ trước, một
ngôi trường lớn đặc biệt, một tầm nhìn chiến lược, một niềm tự hào, một mốc son
đỏ chói, một vầng trăng vằng vặc còn soi tỏ những vấn đề giáo dục hôm nay. Chúng tôi biết ơn Khu học
xá đã rèn luyện, dìu dắt chúng tôi nên người, đã thật lòng nghe lời Bác và thực
hành lời dặn của Bác: Vì nhân dân phục vụ.
[1] -
Tin từ bài phỏng vấn Phó vụ trưởng Vụ Tiểu học Bộ GD ĐT Trần Thi Thắm và trang web Viet Nam net
|
||||||||||||
|
Thứ Sáu, 31 tháng 3, 2017
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)