Các bạn và các cháu thân mến !
( nhờ các cháu chuyển đến bố mẹ, ông bà Khu học xá)
Giữa cuộc kháng chiến chống Pháp, cuối năm 1952,hơn 100 bạn khóa SP đặc biệt KHX đã được điều động về nước để kịp thời khôi phục giáo dục trong vùng địch tạm chiếm và miền núi cao mới giải phóng, Vừa rồi các bạn , các cháu đã đọc 6 bài viết về thời kì này. Nhân dịp kỉ niệm 71 năm CÁCH MANG THÁNG TÁM và QUỐC KHÁNH 2/9. HOA ĐÀU MÙA xin giới thiệu các bài của đợt này của chuyên đề ây
1/ Những kỉ niệm không quên ( Nguyễn Hữu Điện )
2/ Hòa Bình không quên ( Phạm Gia Tuán )
3/ Bước vào đời ( Nguyễn Mạnh Tién )
4/ Tính cách người học sinh khóa Đăc biệt ( Trương Quang Quật )
5/ Để nhớ ( Trịnh Khắc Sùng )
6/ Ki niệm sâu săc trong sự nghiệp trồng người ( Vũ Trọng Nhậm )
Mời các bạn xem các bài trên trong các tệp dưới đây và tìm đọc thêm trên trang facebook (facebook.com/groups/khoaspdbkhuhocxa1952
Khóa SP đặc biệt 1952 của chúng ta ra
trường đến nay đã 61 năm chúng ta đã xấp xỉ hoặc trên 80 tuổi cả rồi. Ở tuổi
này “quên quên nhớ nhớ “ là chuyện thường tình. Vậy mà có một số việc xảy ra
khá lâu, rất lâu tôi vẫn còn nhớ và không bao giờ quên. Tôi xin ghi lại đôi điều
đáng nhớ ấy.
1- “Bây giờ chúng em mới biết các
anh”
Đây là câu
nói của một bạn nữ trong buổi tiễn đưa phân đoàn đặc biệt về nước phục vụ
(7/1952). Một câu nói đã theo sát trong tôi từ đó đến nay. Tại sao bạn ấy lại
nói như vậy? Thưa rằng, cái thưở ban đầu (1952) ấy, khóa ta có 4 lớp 7. Lớp 7A
gồm các bạn nữ và một số bạn nam ít tuổi. Anh, em vẫn gọi vui là lớp “ đàn bà,
con trẻ ”. Ba lớp còn lại toàn là nam sinh và tôi hồi ấy học lớp 7C. Tôi nhớ là
hồi ấy chúng ta ít có điều kiện giao lưu, tiếp xúc với nhau, nhất là lớp có các
bạn nữ. Mặc dù là cùng khóa, song có mặt tại buổi tiễn đưa, có bạn gái đã xúc động
mà phát ngôn như vậy.
Ngày lên
xe về nước rất vui. Các thầy cô và các bạn nhộn nhịp, đứng kín cả sân đình. Là
cuộc chia tay giữa những người ở lại “hậu
phương” với những người đi ra “tiền tuyến”
nhưng không hề ủy mị, bi lụy như những cuộc chia tay thông thường… Mọi người
vây quanh xe, bắt chặt tay nhau như
không muốn rời xa… và chúc nhau may mắn, mạnh khỏe, cùng làm tốt mọi nhiệm vụ…
Trong không khí ấy, bỗng bật lên câu nói của một bạn nữ “Bây giờ chúng em mới
biết các anh…”. Thế là tất cả như rung lên, reo lên… hồ hởi…tiễn xe chuyển
bánh.
Lúc ấy,
tôi chưa kịp biết bạn nào nói lên câu ấy, mà chỉ nghĩ nhanh rằng đây là tiếng
nói chung của tất cả các bạn. Tôi thầm hiểu ý của bạn đó là : Chị em chúng tôi
đã nhìn các anh khác trước nhiều, không cho các anh là cánh con trai nghịch ngợm,
hay trêu chọc chị em… Các anh thực đáng mặt “nam nhi” , không ham cuộc sống yên
bình sung sướng, không “tham sinh – úy tử” , không sợ gian nguy, dám xông vào
bom đạn, làm công việc vẻ vang trồng người cho K.C trường kỳ gian khổ. Các anh
đã chững chạc bước vào đời … thật đáng trân trọng. Nghe bạn nói, tôi thật xúc động. Tôi tự xác định phải làm
việc thật tốt để xứng đáng với sự quý yêu tin cậy, của các bạn gái ấy, cũng như
của tất cả KHX thân yêu. 61 năm đã trôi qua, nay đã vào tuổi 80, câu nói đó vẫn
luôn theo sát bên tôi, là nguồn sức mạnh cổ vũ tôi mọi lúc mọi nơi, trong đời
thường cũng như trong chiến đấu, trong lúc còn công tác cũng như khi về hưu. Tôi
tự nhủ: đến cuối đời mình vẫn sống xứng đáng không để anh chị em phải thất vọng
hoặc xấu hổ về mình, vẫn trân trọng lời nói năm xưa, coi là lời chung của KHX
mà sau này tôi mới biết bạn Nghĩa là người phát ngôn.
2- Gian khổ đạn bom không làm nhụt ý chí, tinh thần học tập của các em
Tiếp theo,
tôi xin ghi lại đôi nét về học sinh ta vượt gian khổ học tập trong thời gian
kháng chiến. Về nước, tôi được phân công với 3 bạn khác về Nam Định. Ty giáo dục cử tôi về dạy
ở xã Văn Phú huyện Ý Yên.
Văn Phú nằm
trong vùng du kích bắc Ý Yên: Cách 3 km về phía đông bắc có bốt An Lão (huyện
Bình Lục - Hà Nam).,
hơn 4km về phía nam là bốt Kinh Thanh . Từ bốt trên đỉnh núi An Lão, địch quan
sát cả một vùng rộng lớn và bắn pháo về bốn xung quanh. Bọn Pháp thường càn
quét các vùng.
Thêm nữa
đây là vùng đồng chiêm của bắc Nam
Định. Mùa nước, mỗi thôn như một ốc đảo, đi lại chỉ với chiếc thuyền nan. Mùa
khô thì đường lầy lội sụt lở … Cày cấy
chỉ có một vụ chiêm, đời sống thật là khốn khó .
Khó khăn,
gian khổ … là thế mà các em đi học rất đều, không có chuyện bỏ học nửa chừng .
Làm hiệu trưởng, tôi lại kiêm dậy lớp 4 . Năm học đầu tiên (1952- 1953 ) , tôi dạy ở thôn Văn Minh .
Năm sau về Tiên Bảng. Hàng ngày, đứng ở cửa lớp chờ đón các em từ các thôn bơi
thuyền về học mà lòng xốn xang, vui sướng .Còn về việc đối phó với địch thì
gian nan hết sức. Ở lớp, thầy trò phải đào hầm hố tránh máy bay , bom pháo ,..Ở
nhà, những học sinh lớn là đội viên du kích, hợp sức với các thầy đào hầm bí mật
và cùng du kích chống càn.
Nhiều lần
đang giờ học, máy bay chúng đến ném bom, bắn phá . Những chiếc “Hen cát “ đen
chũi gầm rú. Vậy mà cả thầy và trò không hề khiếp sợ. Có lần chúng đến rải bom
từ đầu làng đến cuối làng, có quả nổ sát bên trường học. Nhưng rất may là thầy
trò không ai bị thương vong. Nó bắn phá xong, học sinh bơi thuyền tản về nhà,
vui vẻ hồn nhiên như không có chuyện gì xảy ra .
Cũng như
các trường bạn trong vùng , chúng tôi thường thay đổi giờ giấc học tập, để đánh
lạc hướng kẻ địch. Khi thì học buổi sáng lúc thì học ban chiều. Có tuần học buổi
tối, tuần sau lại học từ nửa đêm đến lúc rạng đông. Chuyện thay đổi giờ giấc
này thường diễn ra liền liền mấy tháng trời, thầy trò đều mệt, nhiều em phải chống
chọi với ngủ gà ngủ gật trên lớp .
Bây giờ
nghĩ lại càng thấy lúc ấy các em có “nghị lực thật phi thường”. và tự thấy lúc ấy
mình còn có những điểm không bằng các em
(Vì rằng thầy ở nhà dân gần trường, còn các em - trừ các em ở trong thôn
đặt lớp - phần lớn ở xa trường, đi lại đêm hôm – thuyền bè bì bõm bơi lội, dầu
đèn lù mù bao nỗi khó khăn phức tạp). Lại
nữa, nhiều em trong hoàn cảnh túng thiếu ăn không đủ no, mặc không đủ ấm . Vậy mà 2 năm học 1952 -1954 trong vùng địch
hậu ấy, các em vẫn đều đặn, đông đủ đến trường. Một nét đặc biệt xin nói thêm
là: tuy khó khăn gian khổ nhưng thầy trò
vẫn vui như tết. Tiếng hát hò vang lên
hàng ngày ở lớp tôi dạy cũng như ở các lớp khác trong trường. Ngoài ra thầy trò
chúng tôi còn tham gia những liên hoan
nhỏ của thanh niên dân quân du kích ở
các xóm thôn .
Tiếng hát
câu hò thời ấy quả là có sức mạnh đánh bạt đạn bom, làm tăng khí phách của những
người dân và học sinh trong học tập – sản xuất và chiến đấu
* * *
Những chuyện
tôi ôn lại trên đây đã qua đi lâu rồi, đã 5-6 thập kỷ. Các trò bé nhỏ thân yên
của tôi thời ấy, nay đã ở tuổi “xưa nay hiếm” .
Điều vinh
dự lớn nhất là đại đa số các em đã trưởng thành, có mặt trong các lĩnh vực công
tác, sản xuất , chiến đấu, góp phần làm giàu đẹp, rạng rỡ cho Gia đình - Quê
hương - Đất nước.
Nghĩ tới
các em, tôi lại rộn lên niềm vui khó tả . Chúc mừng các em và rất tự hào về
chúng ta đã có lớp lớp con em như thế.
Tôi và các
bạn được ra trường trong thời kỳ đặc biệt ấy, lại đều có niềm vui chung đặc biệt
về lớp trò nhỏ do ta đào tạo. Ôn lại thời kỳ qua, chúng ta cùng nhau chia sẻ niềm
vui, để niềm vui lớn lên gấp bội. Mong các bạn và gia đình hạnh phúc, để những
ngày cuối đời vẫn là những ngày đáng sống. “Sống vui, sống khỏe và sống có ích
“ luôn theo sát bên ta.
TÍNH
CÁCH NGƯỜI HOC SINH
KHÓA ĐẶC BIỆT
Nhà giáo Trương Quang Quật
![]() | |||